Bạn Nguyễn Trần Anh gửi: Chuyện Tiểu Cúc | Một lời đáp 0 (0)

Vài dòng phản hồi, cho lời bình thơ trong bài Chuyện Tiểu Cúc

Chắc tại cơ duyên sảo hợp, mà mình được biết đến bài thơ này, cùng những lời bình trân trọng dành cho thơ và tác giả. Mà, bởi tác giả (bài viết) đã dành nhiều tâm, nhiều tình cho lời bình luận về bài thơ, mình đọc rồi, bỗng cảm thấy phải viết một điều gì, để hồi đáp cái tâm tình ấy. 

Thơ viết:

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say – nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

***

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ – hóa mộng giữa sương ngời…
….
Tiểu Cúc à…
…Tiểu Cúc của ai ơi?

Bình viết, 

Bài thơ là một bức chân dung, phác thảo Tiểu Cúc như là một cuộc đời đầy đong những kỷ niệm và cảm nghiệm – với sắc lá vàng, gió heo may, tiếng dế ca, cơn mưa mùa, và lão lang thang. Và Tiểu Cúc, trong ánh mắt của một kẻ si mê, đang lạc lối giữa trập trùng cảm xúc ấy. Kẻ si mê, hay tác giả kia, thì mải miết gọi với, mải miết đeo đuổi, còn Tiểu Cúc, thì cứ lạnh lùng mà làm ngơ. “Ai mặc kệ được sự mặc kệ của Tiểu Cúc, thì mới là người Tiểu Cúc cần tìm”, chính là ý vậy. Song, dẫu được theo đuổi đầy nhiệt thành, Tiểu Cúc lại chẳng chọn để mình sà vào lòng tác giả. Ngược lại, quyết định hoá thành hư ảo, đắm vào mỹ mộng, rồi tan đi. 

Mình, đọc bình văn lần thứ nhất, chỉ thấy đồng tình: bởi ai chê bài thơ này rời rạc, thì thật là chẳng biết thưởng thơ. Đọc đến lần thứ hai, thấy hết đồng tình, bởi cách nhìn của mình về bài thơ thật ra hơi khác. Mà đọc tới lần thứ ba, tư, năm… thì chỉ thấy còn lại trên con chữ, những lời tự bạch của người viết bình văn. 

Lần đầu chạm tới bài thơ, mình liền cảm thấy lâng lâng. Có lẽ một phần là vì thơ thật nhịp nhàng đầy giai điệu. Nghe mỗi lời thơ như một lần đưa võng, đu đưa lòng người đọc vào một chốn tư yên. Lại nói, bài thơ đọc lên liền nghe như mùa Thu đã về rất cận, như thể Thu hiện diện quanh khắp, trong mọi giác quan và trong mọi cảm nhận. Thơ như thế, ắt không thể không hay. 

Lại nói, thực ra, Tiểu Cúc đối với mình không phải là một bức chân dung, mà là một ước vọng. Từ lúc xuất hiện, Tiểu Cúc đem về cả một không gian dậy cả mùa, như nói rằng bên em, người ta chạm mặt với vô vàn ký ức sinh động của mùa Thu – mà không gặp em, không phải cùng em, thì khó lòng nào người ta cảm thấy được. Tiểu Cúc đem đến sự cảm nghiệm, và cảm nghiệm làm ta khao khát – khao khát chính cảm nghiệm, và khao khát em. 

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say – nói nhảm

Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Tha thiết yêu Tiểu Cúc, mong muốn có Tiểu Cúc, nên mới sinh ra cái câu hỏi khao khát “Tiểu Cúc của ta đâu?”. Mà, khao khát ấy, còn như kèm cả xót thương, bởi Tiểu Cúc chỉ cần một người – người trăm năm ấy – thôi. Nhưng “người trăm năm” dường như chẳng biết tìm kiếm em. Cho nên, dẫu được khao khát, Tình em lại vẫn chưa trọn.

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Có cảm giác, bài thơ như là tuyệt vọng ở sau hai dấu chấm lửng. Dấu đầu tiên, là cái nhận thức bàng hoàng rằng dẫu Ta khao khát em, Ta vẫn không phải là người em cần; còn dấu thứ hai, là xót xa rằng dẫu Ta chờ đợi em, lời ngỏ mời của Ta chỉ là tiếng mời bị buông lơ, tuyệt vọng. Tiểu Cúc chẳng cần Ta, dẫu rằng em cần một sự hiện diện nào đó.

Chính bởi thế, mà Tiểu Cúc là một ước vọng xa vời. Bởi em chọn tan đi, tan thành mộng, mau mất đi như lời nói dối, trong sự chờ đợi một “người trăm năm biết đi tìm”. Và em mãi chẳng thuộc về, Ta.

Cũng là bởi cách nhìn vào bài thơ, và cảm nhận bài thơ thật khác nhau, mà mình cảm thấy – rất mạnh mẽ, từ bình văn, con người của tác giả. Cách nhìn của tác giả đến bài thơ, và đến Tiểu Cúc, thật cá nhân, chân thật, và đầy tính con người. (Khác với cách nhìn của mình, chắc hơi nhiều… drama!?) Một người nghĩ nhiều, và đôi khi cô độc; một người có nhiều suy tư về giá trị của bản thân, cũng như giá trị của mỗi cá nhân; đồng thời, cũng là một người kiên quyết với lựa chọn của chính mình, và cũng có một tấm lòng biết yêu thương mãnh liệt. 

Và bài viết, dẫu chỉ bình một đôi câu thơ, lại cũng gợi lên những câu hỏi làm người ta phải ngẫm. Giả như, liệu, có nên mải miết sống trọng theo cái lý tưởng của mình, đến tan thành giấc mộng? Và liệu người yêu thương, dẫu không thuộc về mình (nữa), có hạnh phúc không. 

Tựu trung lại, đọc được bài bình văn này, mình như đi lạc vào một nơi xa lạ. Lạc giữa những câu thơ rất thơ, và giữa những lời văn đanh thép đầy cá tính. Và, cũng không biết tác giả bài bình văn lỡ đọc được lời phản hồi này sẽ nghĩ gì. Chỉ mong rằng tác giả hiểu, mình chẳng dám ngông cuồng khen chê, mà đang chân thành góp thêm một lời nhiều chuyện.

Mà, lại thêm một lời nhiều chuyện nữa: Tiểu Cúc và Ta, nếu đã lựa chọn, đừng hối tiếc.

07.05.2019

(Bài gốc: Chuyện Tiểu Cúc|Một lời đáp – Nhà của Gió)

Anh Nguyễn Dương Minh gửi: Rắc rối của từ bi 0 (0)

Không thiếu những câu chuyện lay động về việc cảm hóa sự giận dữ, hận thù bằng sự từ bi. Nhưng tất cả các câu chuyện đó đều chứa một ngầm định quan trọng: người từ bi đã đi guốc trong bụng người được từ bi rồi. Và đây chính là điều khiến cho chúng chỉ là những câu chuyện nghe thì hay nhưng gần như không thể nào xảy ra trong thực tế, chỉ vì một câu hỏi đơn giản: họ là ai mà dám cho rằng mình đúng?

Những câu chuyện, cuối cùng chỉ là những câu chuyện. Những người đã “ngộ” rồi, những người thực sự đã đạt đến cái từ-bi đó, liệu đi ngang qua họ bạn có nhận ra? Cũng như trong công ty, một nhân viên IT làm tròn bổn phận của họ, thực sự trông như họ chẳng làm gì cả. Vậy, những người từ-bi trong truyện kể kia, họ có thực sự từ bi hay không?

Bài viết nói về những đào sâu suy tư và những biến đổi tâm lý của một người từ bi, cũng như những yêu cầu khắc nghiệt và mâu thuẫn nhau để họ có thể mạnh dạn nói rằng điều họ làm xuất phát từ lòng từ bi. Đặc biệt trong trường hợp ngặt nghèo nhất: người từ bi chưa hiểu được tại sao người kia lại làm như vậy (tức chưa có một cơ sở lý thuyết cho trực giác của mình), và người được từ bi có định kiến sẵn với họ. Đáng tiếc, đây có lẽ mới là trường hợp phổ biến trong xã hội nhất, và dường như chưa có ai đề cập đến chúng.

Vậy, ngay từ tiền đề của bài viết, bạn đã vướng vào chính điều mà bạn đưa ra: Bạn có thực sự biết người từ-bi là ai hay không? Làm sao bạn có thể đào sâu vào suy tư và biến đổi tâm lý của một người từ-bi, khi mà bạn còn chưa biết họ là ai? Hay là, bạn cho rằng bạn chính là một người từ-bi, và đây là những suy tư của bạn? Nói cho ngắn gọn lại là: Bạn đang “lên lớp” những người cho rằng họ từ-bi, hay bạn là một người từ-bi chia sẻ những khó khăn trong việc hành thiện của mình? Đi theo hướng thứ hai, có lẽ sẽ có ảnh hưởng hơn. Song, nếu bạn đã là một người từ-bi, liệu bạn có đưa hai chữ từ-bi vào trong bài viết? Vậy thì, thực ra bạn đang lên án những người cho-rằng-họ-từ-bi vậy. Khổ một nỗi, người ta cần thì sẽ hỏi, khó thì mới tìm đến sư thầy để gỡ, chứ ít ai chịu nhận mình vào dạng người cần phải đọc bài này cả.

– Bởi vậy mới nói là rắc rối. Hiểu biết thực sự đòi hỏi sự phản tư, sự can đảm đánh đổ những gì mình biết. Nhưng sự giúp đỡ đòi hỏi sự dìu dắt, am hiểu, vững vàng, và có khi là cứng rắn nữa. Hai cái đó về cơ bản là không thể làm cùng một lúc, và vào một thời điểm nào đó họ phải thôi cho rằng mình có thể đang sai để mà còn giúp người khác. Đó là bi kịch của người từ bi đấy.

Đây là bi kịch của kẻ “trí”. Người hiểu biết ít ỏi đơn giản, cuộc sống với họ mới thực đơn giản làm sao: Đã có những giới hạn cứng, những hằng số bất biến, những quy luật bất di bất dịch làm hệ quy chiếu cho con đường họ đi. Người học nhiều hiểu rộng hơn, họ biết rằng hệ quy chiếu của họ thực ra chỉ là một thứ được người ta vẽ ra, và mọi hằng số, giới hạn, quy luật kia, chỉ đúng trong hệ quy chiếu kia thôi. Một khi hệ quy chiếu đã thay đổi, thì thế giới đảo ngược, hỗn mang! Nhưng vốn dĩ, thế giới là hỗn mang. Để dò dẫm trong đêm trường hỗn mang kia, con người đã từng bước, từng bước rờ rẫm xung quanh mình, rồi quy định, đặt tên cho những thứ mà mình rờ phải. Nếu không có hệ quy chiếu đó, thì loài người mãi mãi chìm trong mông muội!

Thế nên, kẻ trí thì biết rằng, cái họ biết-biết thực quá khiêm tốn với cái họ không-không biết. “There are known knowns, known unknowns and unknown unknowns.” Cái không-không biết, quả thực là một rào cản quá lớn trong tâm trí của kẻ trí. Do đó mà dẫn đến cái gọi là “analysis paralysis”: Tê liệt vì phân tích!

Vậy từ bi là gì? Ví dụ khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì bạn đều muốn họ hạnh phúc mà không mong nhận được gì lại, và những hành động đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó đặc biệt hoặc cao cả hơn giúp đỡ vô vụ lợi. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.

Đức Phật chẳng phải là bậc từ-bi sao? Nhưng khi Ngài thấy một kẻ khốn-nạn đang hấp hối bên vệ đường, Ngài đâu có dừng lại để chăm sóc cho họ? Thay vào đó, Ngài đã bỏ ngai vàng, bỏ vợ đẹp con thơ để đi tìm con đường cứu-nạn cho trần gian khốn-nạn. Như vậy thì, từ-bi không nhất thiết cứ phải là một hành động phản ứng với sự kiện (reactive response). Từ-bi không cần phải là hành động, mà theo tôi, nó là một trạng thái của tâm trí (state of mind).

Chừng nào bạn còn chưa thấy mình bị khủng hoảng niềm tin, bạn còn chưa hài lòng. Và quả thật, vì mỗi lần làm như vậy bạn lại nhìn ra một góc nhìn mới, và thấy những thứ mình nghĩ là hai năm rõ mười hóa ra không phải, nên bạn càng có lý do để làm điều đó. Điều này chưa từng có ngoại lệ, trăm lần như một.

Đây gọi là “làm triết học”.

Thế nên, mặc dù từ bi là câu chuyện không cho phép mình tin vào bất cứ suy nghĩ nào của bản thân, thì nó cũng là câu chuyện có dám làm điều ngược lại hay không.

Đây (vẫn) gọi là “làm triết học”. Descartes đã nghi ngờ cả bản thân mình có tồn tại hay không. Có gì chứng minh được rằng, bạn không phải chỉ là một bộ não sống trong một cái vạc? Có gì chứng minh được rằng, vũ trụ không phải chỉ vừa được tạo ra 5 phút trước đây, với tất cả trí nhớ và niềm tin của bạn được tái tạo nguyên vẹn?

Nhưng có dám sử dụng quyền đó hay không là cách duy nhất để hoàn thành công việc. Người từ bi có quyền được sử dụng quyền đó, và phải sử dụng quyền đó. Đó chính là bi kịch của người từ bi.

Đây là bi kịch của kẻ trí. Và, chắc bạn đã có câu trả lời: Dù muốn hay không, chúng ta phải thuyết phục kẻ khác đi theo chúng ta. Trong vũ trụ vô biên, cái có-tồn-tại là một phần bé xíu xiu, còn cái hư-vô là mênh mông không lường hết được. Do đó, bản chất của vạn vật là sinh sôi nảy nở, là nhân rộng sự tồn tại của nó ra; và bản chất của ý tưởng cũng là như vậy: Ý tưởng đòi hỏi phải được phổ rộng ra, như một con vi-rút dịch bệnh, lan truyền từ người này sang người khác để mãi mãi nó được tồn tại. Vậy bạn là kẻ trí, nhận thức được sự vô nghĩa của vô thường, thì bạn phải thuyết phục kẻ khác tin theo điều đó. Nếu điều bạn tin là sai? Chẳng sao cả, vì bạn, người trần mắt thịt, giới hạn tri thức của bạn chỉ đến đó thôi. Dĩ nhiên, tôi không nói là bạn không nên tiếp tục “làm triết học”, không tự đặt câu hỏi nghi ngờ niềm tin của chính mình nữa. Nên, bạn vẫn làm điều đó; nhưng bạn vẫn nên áp đặt tư tưởng của mình lên những người bạn có thể áp đặt được.

Vậy thì, chúng ta hãy bỏ qua các “rắc rối” và đi tới giải pháp:

Bạn cần khởi lên được trong lòng họ cảm giác thú vị. Nó là cái cảm giác khiến ta ngẩn người ra và tự hỏi “ơ, hóa ra là được à? Thế mà mình cũng không nghĩ ra.” Chính sự thú vị đó mới tiếp thêm năng lượng cho người nghe, làm cho họ thấy bạn tuyệt đối an toàn, và xóa tan mọi dè dặt để đến giúp bạn. Còn bằng không, thì quá trình chú ý, ghi nhớ và biến đổi nghĩa của từ sẽ hành bạn tới chết.

Theo tôi, giải pháp là một cuộc thập tự chinh. Giải pháp, là tẩy não, là tiêm nhiễm tư tưởng vào đầu óc con người từ lúc họ còn rất, rất bé. Tư tưởng từ-bi kia phải là tư tưởng độc tôn, phải là thứ chiếm đoạt lấy suy nghĩ của con người và chối bỏ hết mọi tư tưởng cạnh tranh. Bạn ngạc nhiên ư? Chắc bạn nghe đến khái niệm “a war to end all wars” rồi. Muốn có Pax Mongol, phải có vó ngựa Mông Cổ hoành hành, đốt phá, cướp giết. Muốn có hòa bình, nhất thiết phải có chiến tranh. Hai mặt của một đồng xu, vĩnh viễn không thể tách rời.

Muốn có trí tuệ, phải có ngu muội.

Muốn có từ-bi, phải có nhẫn-tâm.

Bạn Đoàn Phương Thảo gửi: Chuyện Tiểu Cúc 0 (0)

Thỉnh theo lời đề nghị hết sức chân thành, tôi quyết định góp một lời bình về “Chuyện Tiểu Cúc” cho những người yêu thơ dù không mấy sẵn sàng. Lý do thì đã rõ, thứ nhất là tôi còn mơ hồ về bài thơ ấy, thứ hai là tôi không phải dân chuyên. Mà dù không phải người trong ngành, tôi cũng hiểu được một bài thơ hay luôn có vẻ đẹp, ẩn chứa thông điệp nào đó. Nhiệm vụ của người bình thơ là phải làm rõ nó ra, đẩy cái ý hay, cái đẹp ấy lên cho mọi người cùng thưởng thức, thậm chí lôi ra cái vẻ riêng mà không phải độc giả nào cũng thấy được, dù cho cái đẹp là một khái niệm trừu tượng và luôn biết cách làm bất lực ngôn từ. Giống như dù Đạo không thể diễn giải ra nhưng ta vẫn cần dùng lời để nói về Đạo là vậy. Suy đi tính lại, đứa hay đọc chùa như tôi nghĩ mình nên có chút trách nhiệm với bài thơ và với tác giả.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi thân thương, tiếng gọi một cô gái trong hình hài bông cúc nhỏ bé:

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.

“Lá đổ vàng” và “gió heo may” là tiếng nói riêng của mùa thu, là cách thức mùa thu giao tiếp với con người và giao thoa với cảm xúc. Nó đứng riêng, tách mình với tất cả các thời điểm khác trong năm và mang cái hồn riêng biệt động lòng tác giả. Ta đã quen với nỗi niềm vu vơ, lành lạnh, man mác của “heo may” xuất hiện xuyên suốt trong tập “Dấu vết thiên di”. Thu đến với lá vàng và gió se lạnh, hiển nhiên như nó vẫn là, từ năm này qua năm khác. Chính vì nhận ra những dấu hiệu của mùa thu ấy không hề tình cờ, thật bình thường và hiển nhiên quá, nên bỗng dưng tác giả thấy “rất lạ” vì lâu nay không để ý đến cách mà mọi sự vận động rất đỗi tự nhiên.

Hoa cúc từ lâu đã trở thành một biểu tượng cho mùa thu, điều này chẳng ai bàn cãi. Nhưng tiếng gọi Tiểu Cúc ngay từ câu thơ đầu tiên khiến ta dấy lên mối nghi ngờ. Là hình ảnh Tiểu Cúc đã gợi lên cả một mùa thu sống động như thật hay thu về nhắc nhớ đến bóng dáng thân thuộc của Tiểu Cúc? Tôi đồ rằng câu trả lời nằm gọn trong trong ý thứ nhất, vì chúng ta hãy cùng nhìn xem hình ảnh Tiểu Cúc nối liền, “dây mơ rễ má” và rung động mạnh mẽ đến thế giới tâm tưởng như thế nào:

Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tất cả những hình ảnh gợi ra trong đoạn này là từng phần nhỏ của cả một bức tranh thu rộng lớn chứ không hề rời rạc. Có điều bức tranh này khiến ta có cảm giác cô đơn, trật nhịp trong cái bao la rộng ngợp, mênh mang xa mãi. Nào là “heo may”, “trầm tư”, “buồn” rồi đến “bơ vơ”, “bão”, “lang thang”, “lạc nhịp” với mức độ tăng tiến. Tôi đã mường tượng ra một cánh đồng rộng lớn trải dài ngút mắt bên cạnh con sông trước khi bão về. Bầu trời xám lại mù mịt trong gió. Những gợn sóng xô nhau vỗ nước văng ra thành từng giọt như bay về trời để làm mưa. Hình ảnh dòng sông cũng là một hình ảnh quen thuộc trong thơ Nguyễn Băng Ngọc, vừa là dòng sông của hiện tại, dòng sông Hồng chảy nặng phù sa nơi tác giả được nuôi dưỡng và trưởng thành “Cây cơm nguội vàng trút lá đầu đông/Và những buổi chiều nắng tắt trên sông”, vừa là dòng sông hồi ức “Một khúc sông trôi chở miên man những suy tư thời thiếu nữ”, “Người hoạ sĩ bước ra từ giấc mơ/Đi qua sông, đi lạc miền hoài niệm”, vừa là dòng tâm tưởng “Gửi cho anh dìu dịu màu lá mới/Màu dòng sông bình yên – như màu trái tim biết đợi”. Có những khi dòng sông bám lấy cô gái như một đứa trẻ đáng yêu “Có dòng sông màu hồng chảy miết/ Quanh cổ chân bé nhỏ đung đưa”. Có những khi dòng sông như dòng nước mắt chảy cuốn xuôi nỗi buồn “Và chuyện dòng sông màu đỏ…/…bốn mùa say…/Chảy quanh co hờn tủi con phố ngắn/Dường như Mặt Trời khóc ai bên chiều lặng/Nước mắt rơi, loang lổ trải sông dài…”. Dòng sông biến hóa khôn lường là thế, trở về trong “Chuyện Tiểu Cúc” không còn dáng vẻ hiền hòa, không một giọt nắng đậu lấp lánh áng sông trôi. Dòng sông đang trở mình, run lên như thế giới nội tâm đầy xáo động. Ẩn hiện trong bức tranh thiên nhiên tâm tưởng ấy lẻ loi hình ảnh một “lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu”. Con người đó chẳng có tên riêng dù đã bước vào cuộc hành trình từ lâu. Ôi cái sự tự do, lãng du nhưng đơn độc và nhỏ bé. Đó là cảm giác mà Tiểu Cúc mang đến cho tác giả, thứ cảm giác định hình luôn khung cảnh xung quanh. Giống như nỗi buồn hay gắn liền với khung cảnh tối, lạnh. Nghĩ về Tiểu Cúc, tác giả liền tưởng tượng ra cả một thế giới ôm trọn lấy cô. Tiểu Cúc tự tại và không lo nghĩ đến cái nhìn từ bên ngoài. Thế nhưng có đôi khi cô cũng quay đầu lại, để thấy rằng cuộc đời vẫn trôi như thế dù cô có chú ý đến hay không, đời vẫn thật thà “hồn nhiên tấu nhạc” dẫu trong lòng cô là giông bão. Chợt nhận ra điều ấy, nỗi buồn lo bỗng chốc trở nên vô lý và tan đi.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say - nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Có người cho rằng câu hỏi “Tiểu Cúc của ta đâu” là ám chỉ Tiểu Cúc đang lạc lối trong dòng suy tư ngổn ngang của chính mình. Tôi không nghĩ thế vì đơn giản Tiểu Cúc không hề đi lạc, cô ấy biết cách đi đến nơi mình muốn đến. Câu hỏi ngỏ là cách gọi với một cô gái đang không ở gần bên “anh”, ý tứ rằng “em ơi hãy lại đây nghe anh nói”. Em đừng để bị cám dỗ bởi vẻ đẹp nơi ấy vì đối với anh, nó xa xôi và có vẻ vô thực, vô dụng: “mùa thu say nói nhảm”, “vầng trăng khóc trên trời”. Nhưng Tiểu Cúc có lý lẽ của riêng mình, cô để cho cảm xúc “lên ngôi” và lấn át giọng nói anh. Thế giới của cô có gì anh nào đâu biết, “đàn chim sẻ”, “đồi mộng mị”, ngay đến ngọn cỏ, lá cây cũng là một phần trong đó. Thế giới không có thực nhưng mang đến sức sống thực, là nơi cư ngụ, là nơi cô tạm trốn đi những toan tính đời thường, thả lỏng và bình yên. “Tôi-đã nhiều khi-thấy bóng mình nằm yên trên một ngọn đồi, dưới một bóng cây tán rộng. Một ngọn đồi xanh xao mềm mại, rưng rưng tiếng chim qua các ngọn cây. Còn tôi, tôi nằm đó xuôi tay thanh thản.”, “Ngọn đồi nhỏ đó, như niềm an ủi nỗi lòng, gợi nhắc tôi nghỉ ngơi và an thái. Muôn nẻo đường tôi đi có một chốn dừng chân. Nơi mà chỉ cần nằm xuống và nhắm mắt lại, ngọn đồi ấy sẽ ôm trùm tôi rồi biến vào tận cùng hư ảo.”. Vậy nhưng với cái nhìn vật lý từ bên ngoài, anh tưởng cô như người say, bị vẻ đẹp ảo mộng kia mê hoặc và cứ chìm vào đó mãi. Anh liệu có biết đi tìm em không? Vì hình như anh yêu em mất rồi. Anh chẳng biết những điều anh cho là phù du hoá ra lại rất có ý nghĩa với em. Anh chẳng thể hiểu được, chẳng thể nắm bắt được em. Anh không thấy những gì em nhìn thấy. Mà thật ra chính Tiểu Cúc cũng đang trông mong một người có thể tìm đến khoảng không bí mật của mình. Cô chờ đợi “người trăm năm” trong thinh lặng, chỉ viết vội một “chữ Tình” dẫn lối, buộc người yêu thương cô tự kiếm tìm.

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Tiếng gọi Tiểu Cúc da diết, đong đầy lo lắng và yêu thương. Tác giả muốn Tiểu Cúc sống là chính mình, chẳng tình yêu nào lớn lao hơn thế nữa. Ngay cả khi em tồn tại nơi “mùa hạ” bản thân không thuộc về, em hãy cứ “rong chơi” vô ưu vô tư. Khi đêm thu đến, hãy trở về với khoảng lặng của riêng em, để nghỉ ngơi và thanh thản, để hồi sinh nguồn năng lượng.

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ - hóa mộng giữa sương ngời…
....
Tiểu Cúc à...
...Tiểu Cúc của ai ơi?

Tôi đã ngồi ngẫm nghĩ câu này mãi: “Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối”. “Lời nói dối” ở đây là gì? Liệu có phải vì em vừa muốn anh đến, vừa không chào đón, nửa kín nửa hở mời gọi rồi cuối cùng lại lựa chọn “hoá mộng” nên tưởng như em đang lừa dối anh? Hay là em đang lừa dối chính bản thân mình khi muốn vùi mãi trong mộng tưởng? Chữ “mỏng” ở đây đã làm rất tốt công việc của nó khi ranh giới giữa hư và thực, giữa thật thà và lừa dối rất mong manh. Và dù mâu thuẫn là thế hoặc chính vì mâu thuẫn là thế, Tiểu Cúc lựa chọn miền hư ảo đầy ánh sáng “hoá mộng giữa sương ngời”. Khoảnh khắc ấy cô trở nên nhẹ bẫng, chẳng còn lưu luyến điều gì rồi tan đi trong rực sáng thuần khiết. Ta tưởng như có đức Phật, có một ông chúa vừa xuất hiện, Tiểu Cúc thoát ra khỏi vòng luân hồi, tan biến mãi vào hư không, chẳng còn buồn đau hay hạnh phúc, để người ở lại chỉ biết ngước mắt trông theo “Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ai ơi”. Những dấu chấm lửng lơ là những tiếc nuối cuối cùng, những nghẹn ngào, những nhớ mong chưa thành hình dội đến, vang vọng trong không gian. Tiểu Cúc cuối cùng chẳng thuộc về ai, ngay cả bản thân cô ấy.

Có đôi điều thế này. Người thầy mà tôi vô cùng ngưỡng mộ – thầy Chu Văn Sơn đã từng nhận định: “Mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc văn, căn cứ tin cậy nhất, trước sau, vẫn là văn bản tác phẩm. Đó là một nguyên tắc. Và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng hiểu và hiểu thấu đáo là hai cấp độ. Không am tường tác giả thì khó mà thấu đáo tác phẩm.” Hiểu được vậy, mong tác giả hãy thứ lỗi khi có một người vô duyên tự dưng đến xâm phạm vào suy tư cá nhân, để rồi đi vòng quanh, cầm lên đặt xuống mà phân tích, mà bóc tách và lột trần thế giới cảm xúc riêng của Tiểu Cúc, rồi thì ba hoa chích chòe, nói lời mông muội.

Và để đáp lại tâm tình người ở lại ngày ấy, gửi tặng anh bài hát này, như một đoạn kết buồn, hoặc như một “dấu vết thiên di”: Đông kiếm em-Thái Vũ.